Thông tin về hiếm muộn

Lịch sử của thụ tinh trong ống nghiệm

 

(Đinh Thị Phương Thảo, theo http://www.ivf-worldwide.com/ivf-history.html)

Lịch sử của thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) và cấy phôi (Embryo transfer - ET) được biết đến sớm nhất là vào năm 1890 khi Walter Heape, một giáo sư - bác sĩ tại Đại học Cambridge, Anh, đã tiến hành nghiên cứu về sinh sản ở một số loài động vật, báo cáo trường hợp đầu tiên được biết đến của cấy ghép phôi thai ở thỏ, rất lâu trước khi các ứng dụng cho khả năng sinh sản của con người được đề nghị.

Năm 1934 Pincus và Enzmann, thuộc Phòng thí nghiệm Sinh lý học tổng hợp tại Đại học Harvard, công bố một báo cáo trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹvề việc nâng cao khả năng trứng động vật có vú có thể trải qua sự phát triển bình thường trong ống nghiệm. Mười bốn năm sau, vào năm 1948, Miriam Menken và John Rock lấy hơn 800 tế bào trứng từ những phụ nữ ở các điều kiện khác nhau, lọc lấy 138 tế bào trứng cho tiếp xúc với tinh trùng trong ống nghiệm. Họ đã công bố kinh nghiệm của mình trên Tạp chí Sản khoa và Phụ khoa Mỹ.

Tuy nhiên, phải đến năm 1959, bằng chứng không thể chối cãi của thụ tinh ống nghiệm mới thu được bởi MC Chang, người đầu tiên đạt được thành công trong sinh sản ở động vật có vú (thỏ) bằng cách thụ tinh ống nghiệm. Những quả trứng mới rụng đã được thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách ủ với tinh trùng trong bình Carrel nhỏ trong 4 giờ, mở ra phương thức để hỗ trợ sinh sản trên người.

1961: Palmer từ Pháp mô tả đầu tiên việc thu hồi tế bào trứng bằng phẫu thuật nội soi.

1965: Robert Edwards cùng với Georgeanna và Howard Jones tại bệnh viện Johns Hopkins ở Mỹ đã cố gắng để thụ tinh trứng của con người trong ống nghiệm.

1973: Mang thai IVF đầu tiên được báo cáo bởi  nhóm nghiên cứu Monash của giáo sư Carl Wood và John Leeton tại Melbourne, Úc. Thật không may, điều này dẫn đến sẩy thai sớm

1976: Y. Menezo phát triển môi trường nuôi cấy B2 đầu tiên trên thế giới, được gọi là “môi trường Pháp”. Môi trường này phản ánh môi trường nang trứng, ống dẫn trứng và tử cung của cừu, thỏ và con người. Cũng trong năm này, Steptoe và Edwards đã công bố một báo cáo về thai ngoài tử cung sau khi cấy một phôi người ở giai đoạn phôi dâu muộn /phôi nang sớm.

1978: Đứa trẻ đầu tiên (Louise Brown) ra đời ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7, năm 1978. Thành công này là kết quả của sự hợp tác giữa Patrick Steptoe và Robert Edwards.

 1979: Pez và đồng sự bắt đầu theo dõi sự phát triển của nang trên siêu âm. Họ đã cho thấy một mối quan hệ đáng kể giữa các quan sát bằng siêu âm và nội soi.

1981: Nhóm Clamart ở Pháp đã phát triển một xét nghiệm LH có thể phát hiện sự gia tăng LH ban đầu trong huyết tương cho phép dự đoán chính xác thời gian lý tưởng cho việc thu hồi các tế bào trứng

1983: Ca cho – nhận trứng đầu tiên: Nhóm Monash đạt được thành công trong thụ tinh ống nghiệm ở một phụ nữ không có buồng trứng bằng cách sử dụng trứng của người cho trứng, tạo ra các chu kỳ kinh nguyệt nhân tạo và một công thức kích thích tố đặc biệt trong 10 tuần đầu của thai kỳ. Nhóm này cũng báo cáo về sự ra đời em bé đầu tiên từ phôi thai đông lạnh.

Gleicher và nhóm của ông đã báo cáo việc thu trứng qua đường âm đạo lần đầu tiên, sử dụng siêu âm bụng

1984: Công bố Đạo luật vô sinh, luật đầu tiên về thụ tinh ống nghiệm và nghiên cứu liên quan đến phôi người.

Lần đầu tiên cấy phôi đẻ thuê em bé sinh ra ở California

1985: Mang thai em bé đầu tiên bằng cách thụ tinh ống nghiệm sử dụng tinh trùng hút từ mào tinh.

Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng siêu âm bụng cho việc cấy phôi.

1986: IVF Monash báo cáo sự mang thai và ra đời của em bé đầu tiên từ các hoạt động phục hồi tinh trùng thực hiện trên một bệnh nhân tắc ống dẫn tinh.        

1987: Thụ tinh tế bào trứng của con người bằng vi tiêm một tinh trùng duy nhất dưới màng trong suốt

1989: Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng kỹ thuật laser trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, áp dụng với giao tử hoặc phôi.

Gonen và các đồng nghiệp ở Toronto đi tiên phong trong việc sử dụng siêu âm chất lượng nội mạc tử cung liên quan đến mang thai thụ tinh ống nghiệm.

1990: Gonen, Jacobson và Casper đi tiên phong trong việc sử dụng thuốc tránh thai để đồng bộ hóa nang và lập kế hoạch chu kỳ thụ tinh ống nghiệm.

1991: Trưởng thành trong ống nghiệm (IVM) trong một chu kỳ không kích thích dẫn đến mang thai với bệnh nhân cho – nhận trứng

1992: Báo cáo thai kỳ đầu tiên sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương (ICSI) của nhóm tại Brussel

1993: Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng tese (chiết xuất tinh trùng từ tinh hoàn) và ICSI.

1995: Ca sinh nở đầu tiên sau khi phát triển phôi nang từ trứng IVM được ICSI, cộng với hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching).

1996: Nhóm Valencia báo cáo về ca mang thai đầu tiên sử dụng tinh trùng của tinh hoàn trữ lạnh sau IVF-ICSI.

1997: Em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng đông lạnh sau khi ICSI

1998: Lần đầu tiên thiết lập mang thai sử dụng FSH tái tổ hợp và GnRH đối kháng

Báo cáo đầu tiên về ca sinh nở từ trứng GV đông lạnh và trứng cho

2000: Em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng và tinh trùng đông lạnh

2001: Sự ra đời của một trẻ sơ sinh từ phôi trữ lạnh từ tế bào trứng IVM của bệnh nhân không kích thích trứng, PCOS

2002: Em bé đầu tiên ra đời, áp dụng kỹ thuật sinh thiết phôi nang và phân tích PGD (chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi - một kỹ thuật có khả năng phát hiện các bất thường về nhiễm sắc thể và gen).

2004: Báo cáo đầu tiên về bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân ung thư sử dụng IVM và tế bào trứng đông lạnh nhanh

2007: Sự ra đời cặp song sinh đầu tiên từ tế bào trứng đông lạnh của bệnh nhân ung thư.

2008: Người mẹ IVF già nhất trên thế giới: Rajo Devi Lohan đã 69 tuổi vào thời điểm cô đã sinh ra một bé gái, Naveen, sau khi thụ tinh trong ống nghiệm ở Ấn Độ.

2009: Giáo sư Laufer tại Trung tâm Y tế Hadassah ở Jerusalem đã thành công khi giúp một phụ nữ có gen BRCA2 bị lỗi mang thai sau khi phôi thụ tinh trong ống nghiệm được thử nghiệm và cấy ghép.

Đến năm 2012, hơn 5 triệu trẻ em đã được sinh ra trên toàn thế giới nhờ thụ tinh ống nghiệm. Những mốc phát triển quan trọng này đã mở đường cho hàng triệu gia đình, mang đến hy vọng cho hàng triệu người khó có khả năng mang thai tự nhiên.

 

 

Số lượt đọc: 8432 -