Thông tin về hiếm muộn

Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng

BS. Nguyễn Thị Linh
 


HIỆN TƯỢNG PHÔI THOÁT MÀNG:


•    Màng trong suốt  (Zona pelucida- ZP): là “lớp vỏ ngoài” bao bọc lấy trứng và phôi tiền làm tổ. Có vai trò bảo vệ trứng và phôi trong suốt giai đoạn sớm của phôi. Trong giai đoạn này, các phôi bào còn ở trạng thái liên kết lỏng lẻo, màng ZP có vai trò bao bọc bảo vệ các phôi bào này, đồng thời tránh sự làm tổ sớm của phôi trong ống dẫn trứng. Nếu phôi làm tổ sớm nó không có cơ hội phát triển tiếp đến giai đoạn phôi nang.
•    Hiện tượng phôi thoát màng (Hatching): Thường xảy ra vào ngày thứ 5 (120 giờ) sau khi thụ tinh. Lúc này phôi ở giai đoạn phôi nang và di chuyển vào trong lòng tử cung. Sau khi thoát màng phôi nang bắt đầu làm tổ trong nội mạc tử cung từ ngày thứ 6. Bất cứ nguyên nhân nào khiến cho phôi nang không thể thoát màng đều ngăn cản quá trình làm tổ, từ đó sự thụ thai không thể diễn ra.

KỸ THUẬT HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG LÀ GÌ:


Hỗ trợ phôi thoát màng (assisted hatching) là 1 kỹ thuật hỗ trợ sinh sản làm mỏng hoặc làm thủng màng trong suốt bên ngoài phôi, giúp phôi dễ thoát ra ngoài và làm tổ vào tử cung hơn. Nhờ đó giúp cải thiện tỉ lệ thành công khi làm thụ tinh trong ống nghiệm.

TẠI SAO CẦN THỰC HIỆN KỸ THUẬT HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG:


Tỉ lệ làm tổ của phôi trong IVF tương đối thấp hơn so với kết quả chuyển phôi ở các động vật khác. Nhiều nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho hiện tượng này, 1 trong số đó là phôi được nuôi cấy bên ngoài tử cung, rồi chuyển thẳng vào tử cung mà không đi qua vòi trứng.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, phôi IVF vẫn có khả năng thoát màng và làm tổ nhưng tốc độ chậm hơn phôi in vivo (Harlow, 1982, Mercader, 2001). Một số tác giả cho rằng phôi thoát màng chậm sẽ tạp nên sự lệch pha giữa phôi sau khi thoát màng và nội mạc tử cung điều này làm cho nội mạc tử cung trở nên không thuận lợi sau khi phôi thoát màng (Check , 1999; Hsu, 1999). Ngoài ra phôi thoát màng chậm cũng có thể ngăn cản sự gia tăng trao đổi chất của phôi nang khi đang phân chia rất nhanh vào cuối giai đoạn phôi nang.
Cohen và đồng sự (1990) cho rằng phôi được nuôi cấy in vitro có màng ZP cứng hơn và quá trình thoát màng sau đó xảy ra khó khăn hơn.
Ngoài ra nhiều thử nghiệm cho thấy mối liên quan giữa độ dầy của màng ZP với tuổi của phụ nữ và nồng độ FSH cơ bản (Loret de Mola, 1997). Độ dày của màng ZP làm phôi thoát màng khó khăn, từ đó giảm tỉ lệ làm tổ của phôi, giảm tỉ lệ có thai.
Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng lần đầu tiên được thực hiện thành công tại Mỹ năm 1990 do tiến sĩ Cohen thực hiện. Cho đến nay hầu hết các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên thế giới đều thực hiện kỹ thuật này nhằm giúp tăng khả năng làm tổ của phôi sau TTTON.

CÁC CHỈ ĐỊNH CỦA HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG:


Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào khẳng định hỗ trợ phôi thoát màng đều có lợi cho mọi nhóm bệnh nhân trải qua các chu kỳ TTTON, mặc dù kỹ thuật này hiện đang được sử dụng khá rộng rãi. Hiện nay có 1 số trưởng hợp đã được khẳng định trên lâm sàng là tỷ lệ có thai được cải thiện nhiều nhờ hỗ trợ phôi thoát màng:
•    Phôi trữ lạnh: Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, quá trình trữ lạnh và rã đông phôi gây ảnh hưởng lên cấu trúc màng ZP, làm cho màng ZP trở nên cứng chắc, từ đó làm chậm và giảm khả năng của phôi thoát màng. Theo đánh giá trên lâm sàng cho thấy, kỹ thuât hỗ trợ phôi thoát màng có hiệu quả nhất đối với các phôi rã đông sau trữ lạnh.
•    Các bất thường về cấu trúc,  hình thái trứng và phôi: màng ZP dầy, sẫm màu, trứng bất thường hình oval,….
•    Bệnh nhân nữ lớn tuổi: Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, quá trình trữ lạnh và rã đông phôi gây ảnh hưởng lên cấu trúc màng ZP, làm cho màng ZP trở nên cứng chắc, từ đó làm chậm và giảm khả năng của phôi thoát màng. Theo đánh giá trên lâm sàng cho thấy, kỹ thuât hỗ trợ phôi thoát màng có hiệu quả nhất đối với các phôi rã đông sau trữ lạnh.
•    Thất bại nhiều chu kỳ TTTON: Nhóm bệnh nhân thất bại trên 3 chu kỳ.
•    Một số chỉ định khác: Một số trung tâm TTTON trên thế giới còn đưa thêm 1 số chỉ định lựa chọn bệnh nhân tiên hành hỗ trợ phôi thoát màng:
-    Chất lượng phôi kém, phôi chậm.
-    Phôi thu được từ quá trình nuôi cấy trứng non (IVM).
-    Nồng độ FSH cơ bản cao (> 15 mUI/ ml) vào ngày thứ 3 của chu kỳ. Điều này được lý giải do nồng độ FSH cao sẽ ảnh hưởng đến dự trữ buông trứng, từ đó ảnh hưởng tơi sự hình thành của màng ZP của noãn trong các nang noãn.
-   
MỘT SỐ NGUY CƠ CÓ THỂ GẶP PHẢI KHI THỰC HIỆN HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG:


•    Có nguy cơ làm tổn thương tới phôi trong suốt quá trình thực hiện hỗ trợ phôi thoát màng. Mặc dù các tổn thương lớn là hiếm khi xảy ra, một vài phôi bào đơn lẻ trong phôi có thể bị ảnh hưởng chiếm 1% tổng số ca thực hiện. Một vài nghiên cứu gần đây cho thấy điều này không ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình phát triển của phôi.
•    Tỷ lệ làm tổ trên 1 phôi tăng, từ đó dẫn đến tăng tỷ lệ đa thai khi chuyển nhiều phôi.
•    Có thể có những ảnh hưởng chưa được biết tới đối với thai và/ hoặc mẹ.
•    Tăng nguy cơ song thai cùng trứng do các thao tác trên màng ZP. Đã có nhiều báo cáo về hiện tượng song thai cùng trứng do các thao tác trên màng ZP (Hershlag và cộng sự, 1999; Abusheikha và cộng sự, 2000; Saito và cộng sự, 2000; Schieve và cộng sự, 2000; Tarlatzis và cộng sự, 2002; Skiadas và cộng sự, 2008). Song thai cùng trứng có các nguy cơ giống như đa thai, đồng thời cũng mang những yếu tố nguy cơ riêng: hội chứng truyền máu, sự chậm phát triển của 1 hoặc cả 2 thai.

CÁC PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG:


Cho tới nay có 4 phương pháp hỗ trợ phôi thoát màng:
-    Hỗ trợ phôi thoát màng bằng phương pháp cơ học
-    Hỗ trợ phôi thoát màng bằng sử dụng protease
-    Hỗ trợ phôi thoát màng bằng  acid Tyrode
-    Hỗ trợ phôi thoát màng bằng laser
Sử dụng 4 phương pháp trên nhằm tạo 1 lỗ thủng trên màng, làm mỏng màng hoặc loại bỏ hoàn toàn màng ZP. Nghiên cứu thực chứng cho thấy 4 phương pháp trên đều cho hiệu quả như nhau trong việc hỗ trợ phôi thoát màng. Tuy nhiên, do ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp mà ngày nay người ta chỉ chủ yếu sử dụng 2 phương pháp acid Tyrode và tia Laser.

HỖ TRỢ PHÔI THOÁT MÀNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI:


Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được thực hiện tại bệnh viện phụ sản Hà Nội từ tháng 1 năm 2013; tính đến nay đã tiến hành trên 200 chu kỳ phôi trữ và 50 chu kỳ phôi tươi.
Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được chỉ định cho 100% bệnh nhân chuyển phôi trữ và tư vấn tùy trường hợp với bệnh nhân phôi tươi.
Hỗ trợ phôi thoát màng được thực hiện bằng tia Laser nhằm tạo một lỗ thủng trên màng trong suốt của phôi vào ngày chuyển phôi.
Chi phí thưc hiện hỗ trợ phôi thoát màng cho 1 lần chuyển phôi là 1.500.000 đồng

Tài liệu tham khảo:
1.    Đặng Quang Vinh, Vương Ngọc Lan, Lê Thụy Hồng Khả, Vương Công Bình Tâm, Trương Thị Thanh Bình, Hồ Mạnh Tường (2009).  “So sánh hiệu quả hỗ trợ phôi thoát màng bằng acid Tyrode và laser trong thụ tinh trong ống nghiệm”. Y học tp Hồ Chí Minh, tập 13, phụ bản số 1.
2.    Hồ Mạnh Tường (2009). “Y học thực chứng về hiệu quả của hỗ trợ phôi thoát màng”.  2nd SGART Hands- on workshop.
3.    D.A.Blake, A.S.Forsberg, B.R.Jonhansson, M.Wikland. “Laser zona pellucida thinning- an alternative approach to assisted hatching”.  Human Reproduction vol.16 No.9, pp 1959- 1964.
4.    David K. Gardner, Ariel Weissman, Colin M. Holmes, Zeev Shoham. “Textbook of Assisted Reproductive Technologies”.
5.    David P.L. Green (1997). “Three dimensional of zona pellucida”. Review of Reproduction (1997) 2, pp 147- 156.
6.    Jacques Cohen (1991). " Review Assisted hatching”.  Journal of invitro fertilization and embryo transfer, vol.8, no.4, 1991.
7.    Q.F.Lyu, L.Q.Wu, Y.P.Li, Q.Pan, D.E.Liu, K.Xia, D.S.Liang, F.Cai, Z.G.Long, H.P.Dai, J.H.Xia (2005). “An improved mechanical techniques for assisted hatching”.  Human Reproduction vol.20 No.6, pp 1619- 1623.

 

Số lượt đọc: 13939 -