Thông tin về hiếm muộn

Các phác đồ kích thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm

Ths.Bs. Đào Lan Hương


Mục đích sử dụng các thuốc để kích thích buồng trứng là nhằm đạt số lượng nang noãn trưởng thành tối đa. Sau đó sử dụng hCG để kích thích giai đoạn phát triển cuối cùng của các nang noãn, đồng thời dự tính được thời điểm hút noãn. Một vấn đề lớn trong kích thích buồng trứng là sự xuất hiện của đỉnh LH, khi các nang noãn chưa trưởng thành thì sẽ bước qua giai đoạn thoái triển, hoàng thể hóa sớm và làm giảm chất lượng noãn. Do vậy việc ức chế đỉnh LH trong kích thích buồng trứng để làm IVF là một trong những bước tiến lớn trong các phác đồ kích thích buồng trứng
 

1. Phác đồ clomiphen citrat + gonadotropins


FSH/hMG thường được sử dụng liên tiếp hoặc đồng thời với clomiphen citrat. Sau đó theo dõi sự phát triển nang noãn bằng siêu âm và xét nghiệm nội tiết. Phác đồ này thường có tỷ lệ xuất hiện đỉnh LH sớm cao và tỷ lệ thành công thấp. Do vậy, phác đồ này hiện nay không sử dụng trong IVF
 

2. Phác đồ gonadotropins đơn thuần


Việc sử dụng hMG hoặc FSH đơn thuần để kích thích buồng trứng trong IVF được bắt đầu vào khoảng đầu thập kỷ 80. Phác đồ này hiện ít dùng do không kiểm soát được sự xuất hiện của đỉnh LH sớm, có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kích thích buồng trứng và tỷ lệ thành công. Chính vì điều này mà hiện nay các phác đồ kích thích buồng trứng trong IVF đều phối hợp FSH với GnRH đồng vận hoặc đối vận.
 

3. Phác đồ GnRH agonist + gonadotropins


Sử dụng FSH để kích thích sự phát triển của nang noãn. Sử dụng GnRH agonist để ngăn ngừa  sự xuất hiện đỉnh LH sớm, hạn chế hoàn toàn hiện tượng phóng noãn và hoàng thể hóa sớm, làm tăng số noãn thu được trong một chu kỳ và tỷ lệ noãn trưởng thành cao. Có hai phác đồ kích thích buồng trứng phổ biến, đó là  phác đồ dài và phác đồ ngắn.
 

3.1. Phác đồ dài (long protocol, down-regulation protocol):


Diphereline 0,1 mg tiêm dưới da trong 14 ngày liên tục bắt đầu từ ngày 21 hoặc từ ngày đầu của chu kỳ  kinh sau đó phối hợp với FSH thì liều Diphereline giảm một nửa còn 0,05 mg. Thời gian phối hợp này thường kéo dài 10 đến 12 ngày cho đến khi có ít nhất một nang noãn có đường kính ≥ 18 mm trên siêu âm thì sử dụng hCG để kích thích sự trưởng thành của noãn. Thực hiện hút noãn 36 giờ và chuyển phôi vào ngày 2 hoặc ngày 3. Phác đồ này là phác đồ chuẩn áp dụng cho các bệnh nhân tiên lượng đáp ứng bình thường đối với kích thích buồng trứng. Đây là phác đồ sử dụng nhiều nhất tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003, tỷ lệ phác đồ dài chiếm 85,7% các chu kỳ IVF và tỷ lệ có thai lâm sàng trong phác đồ dài là 34,8%.
3.2. Phác đồ ngắn (short protocol, flare-up protocol):
Diphereline được dùng đồng thời với FSH từ ngày 2 của chu kỳ kinh. Theo dõi sự phát triển nang noãn, hút noãn và chuyển phôi giống như trong phác đồ dài. Phác đồ này thường áp dụng cho bệnh nhân có nguy cơ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng. Phác đồ ngắn được chỉ định cho bệnh nhân tiên lượng đáp ứng kém với kích thích buồng trứng.
 

4. Phác đồ GnRH antagonist + gonadotropins


Mấy năm gần đây, GnRH antagonist được sử dụng để kích thích buồng trứng trong hỗ trợ sinh sản. GnRH antagonit ngăn ngừa được đỉnh LH trong kích thích buồng trứng. Phác đồ này có thời gian kích thích buồng trứng ngắn hơn, lượng thuốc sử dụng ít hơn so với phác đồ dài. Al- Iany H  nghiên cứu so sánh giữa phác đồ dài GnRH agonist với phác đồ GnRH antagonist cho thấy 2 phác đồ khác biệt không có ý nghĩa thống kê về tác dụng ngăn ngừa đỉnh LH. Phác đồ GnRH antagonist có tỷ lệ quá kích buồng trứng nặng thấp hơn so với phác đồ GnRH agonist nhưng tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn ở phác đồ GnRH antagonist. Tuy nhiên, theo nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của Lainas và cộng sự so sánh sử dụng GnRH antagonist và phác đồ ngắn với GnRH agonist cho những bệnh nhân tiên lượng đáp ứng kém với kích thích buồng trứng, các tác giả cho thấy phác đồ dùng GnRH antagonist có tỷ lệ thai tiến triển (ongoing pregnancy rate) cao hơn so với phác đồ ngắn (12,2% so với 4,4%, p <0,048).
Hiện nay phác đồ kích thích buồng trứng phổ biến đó là phác đồ GnRHa phối hợp với gonadotropins và phác đồ GnRH antagonist phối hợp với gonadotropins.

 

Số lượt đọc: 16802 -