Thông tin về hiếm muộn

Bước đầu nghiên cứu tác động của âm nhạc đến trạng thái lo âu của bệnh nhân trước chuyển phôi tại khoa HTSS BVPSHN



Tóm Tắt

Mục tiêu:  Đánh giá bước đầu hiệu quả của âm nhạc đến trạng thái lo âu của bệnh nhân trước chuyển phôi trong thụ tinh trong ống nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu nghiên cứu:  gồm 60 bệnh nhân TTTON của bệnh viện PSHN đến giai đoạn chuyển phôi được chia làm 2 nhóm, can thiệp thử nghiệm có đối chứng, chọn nhóm theo ghép cặp, một nhóm được can thiệp bằng âm nhạc, một nhóm không được can thiệp gì. Kết quả: sự khác biệt về trạng thái lo âu có ý nghĩa thống kê giữa nhóm được can thiệp âm nhạc và nhóm không được can thiệp âm nhạc 39,2 ± 8,56 so với 42,4 ± 8,74. Kết luận: âm nhạc có tác động phần nào đó giải tỏa bớt căng thẳng lo âu đối với tâm lý bệnh nhân trước chuyển phôi.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là  phương pháp điều trị vô sinh ngày càng được áp dụng phát triển rộng rãi trên thế giới. Thông thường, có khoảng 80% bệnh nhân có thực hiện TTTON đến được giai đoạn chuyển phôi [1]. Chuyển phôi là bước cuối cùng nhưng rất quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ có thai trong TTTON. Bệnh nhân đến được giai đoạn chuyển phôi phải trải qua một quá trình dài điều trị, tốn kém kinh phí, chịu nhiều áp lực từ gia đình hoặc xã hội làm cho tâm lý nặng nề và có thể dẫn đến stress gây ảnh hưởng lớn đến quá trình thụ thai. Trên thế giới, ở những nước phát triển, liệu pháp âm nhạc đã trở thành phương pháp hữu hiệu để điều trị cũng như giảm lo âu stress và đã được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên ở nước ta, liệu pháp này còn  mới mẻ và buớc đầu được áp dụng 1 cách chuyên nghiệp ở một số cơ sở trị liệu tâm lý và bệnh viện tâm thần [3].

Ở Việt Nam, hiện tại đã có 14 trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm nhưng chưa có trung tâm nào áp dụng liệu pháp âm nhạc để giảm lo âu stress cho bệnh nhân trước chuyển phôi. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Bước đầu nghiên cứu tác động của âm nhạc đến trạng thái lo âu ở bệnh nhân trước chuyển phôi tại khoa hỗ trợ sinh sản bệnh viện phụ sản Hà Nội” để trả lời câu hỏi liệu âm nhạc có làm giảm bớt trạng thái lo âu ở bệnh nhân trước chuyển phôi ko?

I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu


           Là những bệnh nhân chuyển phôi của TTTON tại khoa Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện phụ sản Hà Nội từ 01/07/2012 đến hết 30/10/2012.

            Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: nhóm nghe nhạc và nhóm không nghe nhạc, mỗi nhóm n = 30 bệnh nhân.Chọn 2 nhóm bệnh nhân có đặc điểm lâm sàng tương đồng.

1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn


- Bệnh nhân nữ điều trị vô sinh bằng phương pháp TTTON đến được giai đoạn chuyển phôi.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời các câu hỏi theo bộ câu hỏi

1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Bệnh nhân không đến được giai đoạn chuyển phôi.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu


- Đây là nghiên cứu mới nên bước đầu chúng tôi chọn cỡ mẫu là n= 60 bệnh nhân chia làm 2 nhóm: nhóm nghe nhạc và nhóm không nghe nhạc, mỗi nhóm n = 30 bệnh nhân.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Can thiệp thử nghiệm có đối chứng, phân chia 2 nhóm, chọn nhóm theo ghép cặp.

2.3. Các bước tiến hành

Bước 1: Tham khảo và sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn “Zung”

Thang Đánh giá mức độ lo âu Zung:  là thang tự đánh giá gồm có 20 đề mục,  mô tả một số triệu chứng của cơ thể, được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu dịch tễ học (Zung WW., 1965).Thang đánh giá lo âu do Zung W. K, được coi là tiêu chuẩn để đánh giá lo âu, là thông tin trực tiếp, nhất quán từ người bệnh, là một trắc nghiệm khách quan định lượng hoá và chuẩn hoá, sử dụng nhanh. Test Zung cũngđược TCYTTG thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu và hiệu quả của các phương pháp điều trị lo âu.Test gồm 20 mục xếp từ 1 đến 20, cho điểm theo 4 mức độ thời gian xuất hiện triệu chứng từ 1 đến 4 điểm.Đánh giá kết quả: Điểm tối đa là 80 [6].

Bước 2: Tiến hành hỏi thử 15 bệnh nhân nhằm mục đích xem họ có hiểu các câu hỏi.

Bước 3: Tiến hành nghiên cứu

Các bệnh nhân điều trị tại khoa Hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm đến được giai đoạn chuyển phôi sẽ được tư vấn và giải thích, nếu đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn theo bộ câu  hỏi theo các bước sau:

Bệnh nhân sẽ được chia làm 2 nhóm theo ngày chẵn lẻ, bệnh nhân đều được phỏng vấn làm 2 lần: bắt đầu vào phòng chờ chuyển phôi và trước lúc vào chuyển phôi. Thời gian giữa 2 lần cách nhau khoảng 2 tiếng, sử dụng 1 phòng chờ chuyển phôi chung.

- Đối với ngày chẵn : sau khi phỏng vấn lần 1, tiếp đó bệnh nhân được nằm nghỉ ngơi và nghe nhạc không lời khoảng 30p trong khi chờ vào chuyển phôi, phỏng vấn lần 2 trước khi bệnh nhân vào chuyển phôi.

- Ngày lẻ: sau khi phỏng vấn lần 1, bệnh nhân nằm nghỉ tại phòng chờ khoảng 2 tiếng rồi vào chuyển phôi,  phỏng vấn lần 2 trước khi bệnh nhân vào chuyển phôi.

- Nội dung phỏng vấn của 2 nhóm, lần 1 và lần 2 như nhau, bệnh nhân điền câu trả lời vào bộ câu hỏi đánh giá mức độ lo lắng theo thang điểm .

+ Không lo âu : ≤ 40 điểm

+ Lo âu mức độ nhẹ : 41 - 50 điểm

+ Lo âu mức độ vừa : 51 - 60 điểm

+ Lo âu mức độ nặng : 61 - 70 điểm

+ Lo âu mức độ rất nặng : 71 - 80 điểm

3. Các tham số nghiên cứu

- Một số đặc điểm của bệnh nhân: Tuổi, nghề nghiệp, loại vô sinh, thời gian vô sinh, nguyên nhân vô sinh, các phương pháp điều trị.

- Trạng thái tâm lí bệnh nhân trước chuyển phôi lần phỏng vấn 1, lần 2 của 2 nhóm nghe nhạc và không nghe nhạc.

4. Phân tích số liệu

- Thu thập số liệu theo mẫu và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS for Win 11.5

- So sánh các giá trị trung bình bằng test T, so sánh % bằng  χ2  test.

 

5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu này đều tự nguyện.

- Các thông tin của bệnh nhân đều được bí mật trước, trong và sau nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu tâm lí của bệnh nhân sẽ giúp cho các cán bộ y tế hiểu hơn về tâm trạng của các bệnh nhân để từ đó giúp đỡ các bệnh nhân một cách tốt hơn.

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm trạng thái lo âu bệnh nhân trước chuyển phôi tại khoa hỗ trợ sinh sản Bệnh viện phụ sản Hà Nội

 

         

 

 

 

 

Tâm lý

Nhóm nghe nhạc

Nhóm không nghe nhạc

p

n

%

n

%

Không lo âu (≤ 40)

11

36,7

9

30

>0,05

Lo âu mức độ nhẹ (41- 50)

12

40

16

53,3

Lo âu mức độ vừa (51- 60)

6

20

4

13,4

Lo âu mức độ nặng (61- 70)

1

3,3

1

3,3

Lo âu mức độ rất nặng (71- 80)

0

0

0

0

Tổng

30

100

30

100

Trung bình điểm

42,4 ± 8,74

42,2 ±7,83


Bảng 1: Kết quả bảng đánh giá trạng thái lo âu của bệnh nhân phỏng vấn lần 1

        Điểm trung bình của nhóm nghe nhạc là 42,4 ± 8,74 và của nhóm không nghe nhạc là 42,2 ± 7,83 , 2 nhóm có mức độ tâm lý khá tương đồng với p> 0,05,  xếp vào mức độ tâm lý lo âu nhẹ và cũng tương đồng với kết quả của Hoàng Thị Tuyết Mai(2012) điểm trung bình của tâm lý bệnh nhân điều trị vô sinh cũng xếp vào mức độ hơi lo âu[2]. Tuy nhiên, Gộp chung cả 2 nhóm phân tích kỹ hơn chúng tôi thấy tỷ lệ các mức độ lo âu  (không lo âu 33.35%, lo âu mức độ nhẹ 46.65%, lo âu mức độ vừa 16.7%, lo âu mức độ nặng 3.3%, lo âu mức độ rất nặng 0%) hơi khác với nghiên cứu của Hoàng Thị Tuyết Mai(2012) (không lo âu 12%, lo âu mức độ nhẹ 54%, lo âu mức độ vừa 32.7%, lo âu mức độ nặng 1.4%, rất nặng 0%), sự khác nhau về tỷ lệ này do đặc điểm tất cả là bệnh nhân TTTON còn nghiên cứu của Hoàng Thị Tuyết Mai là tâm lý tổng thể bệnh nhân vô sinh[2].

2. Đánh giá bước đầu hiệu quả của âm nhạc đến trạng thái lo âu của bệnh nhân trước chuyển phôi trong thụ tinh trong ống nghiệm.

 

Tâm lí

Nhóm không nghe nhạc

Nhóm  nghe nhạc

Phỏng vấn lần 1

Phỏng vấn lần 2

Phỏng vấn lần 1

Phỏng vấn lần 2

n=30

%

n=30

%

n=30

%

n=30

%

Không lo âu

( ≤ 40)

9

30

12

40

11

36,7

20

66,7

Lo âu mức độ nhẹ (41 – 50)

16

53,3

15

50

12

40,0

8

26,7

Lo âu mức độ vừa (51 – 60)

4

13,4

2

6,7

6

20,0

2

6,6

Lo âu mức độ nặng (61 – 70)

1

3,3

1

3,3

1

3,3

0

0

Lo âu mức độ rất nặng (≥ 71)

0

0

0

0

0

0

0

0

Điểm

42,2 ±7,83

41,0 ± 7,36

42,4 ± 8,74

39,2 ± 8,56

p

>0,05

<0,05

 

 
Bảng 2: Kết quả bảng đánh giá trạng thái lo âu của bệnh nhân phỏng vấn lần 1,2 của nhóm không nghe nhạc và nhóm nghe nhạc.
- Đánh giá tâm lý của bệnh nhân  ở nhóm không được nghe nhạc

So sánh kết quả phỏng vấn giữa 2 lần 1 và 2:

+ Bệnh nhân không lo âu từ 9(30%) tăng lên 12(40%)

+ Lo âu mức độ nhẹ từ 16(53.3%) giảm xuống 15(50.0%)

+ Lo âu mức độ vừa từ 04(13.4%) giảm xuống còn 2(6.7%)

+ Lo âu mức độ nặng vẫn còn 1(3.3%)

+ Lo âu mức độ rất nặng không có

 Giữa 2 lần phỏng vấn 1 và phỏng vấn 2 là phỏng vấn lúc bắt dầu vào phòng chờ và trước lúc bắt đầu vào chuyển phôi, khoảng thời gian giữa 2 lần phỏng vấn không có can thiệp gì thì ta thấy tâm lý của bệnh nhân không có biến chuyển mấy, các tỷ lệ có dao dộng ít,không lo âu từ 30% lên 40%,mức độ lo âu 69,9% giảm xuống còn 60%, điểm trung bình giữa 2 lần phỏng vấn từ 42,2 ±7,83 xuống còn 41,0 ± 7,36, như vậy điểm trung bình vẫn nằm trong thang điểm từ 41 đến 50  sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p> 0,05.

- Đánh giá tâm lý của bệnh nhân  ở nhóm  được nghe nhạc

So sánh kết quả phỏng vấn giữa 2 lần 1 và 2:

- Bệnh nhân không lo âu từ 11(36,7%) tăng lên 20(66,7%)

- Lo âu mức độ nhẹ từ 12(40%) giảm xuống 8(26,7)%

- Lo âu mức độ vừa từ 6(20%) giảm xuống còn 2(6,7%)

- Lo âu mức độ nặng từ 1(3,3%) giảm xuống còn 0

- Lo âu mức độ rất nặng không có

 Giữa 2 lần phỏng vấn 1 và phỏng vấn 2 là trước khi can thiệp và sau khi can thiệp tỷ lệ bệnh nhân không lo âu tăng cách đáng kể từ 36.7% lên tới 66.7%, tỷ lệ bệnh nhân lo âu giảm từ 63.3% xuống còn 33.4%, điểm trung bình giữa 2 lần phỏng vấn từ  42.4± 8.74 xuống còn 39.2± 8.56, như vậy nằm trong thang điểm từ 41 đến 50 được xếp vào lo âu mức độ nhẹ xuống đến thang điểm dưới 40 được xếp vào không lo âu chứng tỏ có sự khác biệt giữa 2 lần phỏng vấn, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0.05.

Qua bảng 3.8 ta thấy âm nhạc có tác động đáng kể trong việc giảm lo âu stress đối với bệnh nhân trước khi chuyển phôi nó có ý nghĩa tương đồng với nghiên cứu của celia HY Chan và cộng sự sử dụng biện pháp tâm linh can thiệp giảm lo âu cho bệnh nhân điều trị vô sinh [4].

  Bệnh nhân tham gia vào thụ tinh ống nghiệm mang một tâm lí nặng nề có thể dẫn tới trầm cảm và ngoài ra còn ảnh hưởng tới khả năng thụ thai [5]. Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng âm nhạc như một sự can thiệp điều dưỡng có hiệu quả trong việc giảm lo âu cho bệnh nhân trước chuyển phôi.

IV. KẾT LUẬN

 


- Nhóm không nghe nhạc: tâm lý không thay giữa lần phỏng vấn 1 và phỏng vấn 2 với p > 0,05.
- Nhóm nghe nhạc: âm nhạc tác động làm giảm lo âu của bệnh nhân với        p < 0,05

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Thị Phương Mai, Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Song Nguyên, Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan (2002), Hiếm Muộn, vô sinh và kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản, NXB Y học, tr 290.

2. Hoàng Thị Tuyết Mai (2012) “Tâm lý các bệnh nhân điều trị vô sinh bằng phương pháp Thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương”, Đề tài tốt nghiệp đại học, Đại học Thăng Long.

3.
Nguyễn Văn Thọ (2009), Liệu pháp âm nhạc và ứng dụng liệu pháp tâm lý âm nhạc trong điều trị bệnh nhân tâm thần, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr 17-18.

4.
  Celia HY Chan , Cecilia LW Chan , Ernest HY Ng, PC Hồ , Timothy HY Chan , GL Lee , WHC Hui (2005). Effectiveness of psychosocial group intervention for reducing anxiety in women undergoing in vitro fertilization: a randomized controlled study.Fertility and sterility. 85(2):339-46.

5. Domar, AD, Broome, A., Zuttermeister, PC, Seibel, M., Friedman, R., 1992a. The prevalence and predictability of depression in infertile women. Fertility and Sterility 58, 1158±1163.
6.   http://healthnet.umassmed.edu/mhealth/ZungSelfRatedDepressionScale.pdf

 

Số lượt đọc: 6079 -