Quy trình khám chữa bệnh

Kết quả thành công và kết quả không mong muốn của thụ tinh trong ống nghiệm



1. Kết quả thành công của thụ tinh trong ống nghiệm

Tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm về bệnh nhân, phác đồ kích thích buồng trứng, chất lượng nuôi cấy phôi, số phôi chuyển và kỹ thuật chuyển phôi.

Theo báo cáo của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ năm 2003, tổng số chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm là 112.872. Tỷ lệ trẻ sinh sống trong các chu kỳ chuyển phôi tươi  của IVF là 33,4%, ICSI là 31,9%, GIFT là 20,8% và ZIFT là 25,9%. Tỷ lệ trẻ sinh sống phụ thuộc theo tuổi của người mẹ. Tỷ lệ trẻ sinh sống với tuổi mẹ <35, 35-37, 38-40, 41-42, >42 lần lượt là 37%, 30%, 20%, 11% và 4%.

Nguyên nhân vô sinh cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thành công. Tỷ lệ trẻ sinh sống của thụ tinh trong ống nghiệm là 33,9% đối với nguyên nhân do rối loạn phóng noãn, 14,3% đối với nguyên nhân do giảm dự trữ của buồng trứng.

2. Kết quả không mong muốn của thụ tinh trong ống nghiệm


2.1. Đa thai


Đa thai là nguy cơ cao nhất của thụ tinh trong ống nghiệm. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản làm tăng tỷ lệ đa thai cao gấp 10 lần so với tự nhiên (35% so với 3%). Tỷ lệ đa thai phụ thuộc vào số phôi chuyển nhưng số phôi chuyển càng nhiều thì tỷ lệ thành công càng cao. Người càng trẻ thì tỷ lệ đa thai càng cao. Tỷ lệ song thai ở người dưới 35 tuổi có thể tới 40% khi chuyển 2 phôi tốt. Đa thai có nguy cơ cao hơn về những bất thường bẩm sinh. Trong song thai một buồng ối, nguy cơ về hội chứng truyền máu tăng lên.

Đa thai từ 3 thai trở lên thì cần phải giảm thiểu và điều này có thể gây sang chấn tinh thần cho người mẹ. So với mang một thai, đa thai có nguy cơ cao hơn về các biến chứng sản khoa như tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật và đẻ non. Hiện nay ở các nước châu âu đang tiến hành chuyển một phôi duy nhất vào buồng tử cung hoặc chuyển phôi ở giai đoạn blastocyte để tránh đa thai.

2.2. Chửa ngoài tử cung


Tỷ lệ thai ngoài tử cung của chu kỳ hỗ trợ sinh sản cao hơn so với bình thường (4-5% so với 1-2%) Nguy cơ cao hơn ở những bệnh nhân bị tắc vòi tử cung và có tiền sử đã bị chửa ngoài tử cung.

2.3. Nguy cơ ung thư và điều trị vô sinh

Các nghiên cứu gần đây không chứng minh được nguy cơ tăng lên đối với ung thư vú, ung thư tử cung hoặc ung thư buồng trứng do sử dụng thuốc kích thích buồng trứng trong điều trị vô sinh mà các thuốc kích thích buồng trứng chỉ kích thích sự phát triển của các khối u đã tồn tại. Hai nghiên cứu bệnh chứng của Italy và Đan Mạch cũng không tìm thấy mối liên quan giữa thuốc điều trị vô sinh và ung thư biểu mô buồng trứng. Đối với sử dụng clomiphen citrat dưới 12 tháng thì cũng không làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng

Số lượt đọc: 17191 -