Quy trình khám chữa bệnh

Đánh giá xét nghiệm tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn who 2010

                                                                CNXN: Nguyễn Thị Thức



Xét nghiệm tinh dịch đồ là một xét nghiệm cơ bản đánh giá khả năng sinh sản tự nhiên của nam giới. Kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ có ý nghĩa quan trọng trong lâm sàng: Đưa ra hướng điều trị hiếm muộn, đặc biệt trong điều trị nam học. Đánh giá các chỉ số tinh dịch đồ thường mang tính chủ quan và thường xuyên thay đổi tùy người thực hiện, do đó cần có sự thống nhất cách đánh giá. Việc chuẩn hóa các phương pháp khảo sát tinh dịch người cần được thực hiện theo các khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) để tăng tính chính xác của kết quả xét nghiệm, từ đó phần nào đưa ra phương pháp điều trị đúng đắn.

 Nhận thấy WHO 2010 là một tiêu chuẩn mới phù hợp với xu thế thời đại, hiện nay Bệnh viện Phụ sản Hà nội đã và đang dần áp dụng, chuẩn hóa kỹ thuật này nhằm mang lại hiệu quả điều trị cao nhất, với tinh thần hết mình vì người bệnh.

I-CÁCH LẤY TINH DỊCH

1.Điều kiện:

-Kiêng xuất tinh từ 2-7 ngày. Nếu kiêng >07 ngày làm tăng tỉ lệ chết và dị dạng của tinh trùng. Thời gian kiêng <02 ngày giảm số lượng và chất lượng tinh trùng.

-Bệnh nhân không dùng thuốc lá, rượu, bia và các chất kích thích khác trước đó, không trong thời kỳ điều trị bệnh hoặc đang dùng thuốc…

2. Địa điểm:

-Mẫu được lấy tại phòng lấy mẫu tinh chất: Phòng được thiết kế chuyên biệt phù hợp với điều kiện của khoa phòng, bệnh viện và điều kiện lấy mẫu của bệnh nhân.

3.Cách thức:

-Bệnh nhân phải đi tiểu hết, rửa sạch tay và dương vật bằng nước sạch trước khi lấy mẫu. Không sử dụng xà phòng vì xà phòng có chứa các chất gây độc với tinh trùng.

-Tự lấy tinh dịch bằng cách thủ dâm và xuất tinh vào một lọ tiệt trùng miệng rộng bằng nhựa không có chất gây độc với tinh tùng. Trên lọ dán nhãn có ghi tên, tuổi bệnh nhân và ngày giờ lấy mẫu.

-Mẫu sau khi lấy nên để tủ ấm nhiệt độ 20 đến 400C, tốt nhất là 370C để tạo một trường thích hợp nhất không làm ảnh hưởng đến độ di động của tinh trùng.

-Trong trường hợp bệnh nhân không thủ dâm được, có thể dùng một loại bao cao su chuyên dụng để lấy mẫu. Bao cao su thường có các chất diệt tinh trùng không được sử dụng.Phương pháp xuất tinh ra ngoài gián đoạn cũng không nên dùng, do có thể lẫn các tế bào âm đạo, lây nhiễm vi khuẩn từ âm đạo, PH âm đạo ảnh hưởng đến tinh trùng.

-Bệnh nhân lấy toàn bộ tinh dịch của một lần xuất tinh, tránh rơi vãi ra ngoài. Cần phải ghi nhận lại nếu có sự rơi vãi.

II- KHẢO SÁT ĐẠI THỂ:

1.Sự ly giải:

Tinh dịch sau khi xuất tinh để vào tủ ấm 370C quan sát sự ly giải

 -Bình thường tinh dịch sẽ tự ly giải sau 15-20 phút

-Nếu thời gian ly giải>60 phút nên ghi nhận điều này vào bảng kết quả phân tích. Thời gian ly giải lâu hay không ly giải thường do sự bất thường của tiền liệt tuyến (hay gặp trong trường hợp viêm tiền liệt tuyến)

2.Màu sắc: Quan sát bằng mắt thường

-Mẫu tinh dịch thường sẽ có màu trắng hoặc xám đục

-Tinh dịch ngả màu vàng có thể do dùng một số loại vitamin hoặc do lẫn nước tiểu hay nhiễm trùng

-Tinh dịch có màu đỏ nâu hoặc hồng có thể do lẫn máu

-Tinh dịch loãng, trắng thường do thiểu tinh hoặc vô tinh

-Tinh dịch lợn cợn nhiều có thể do viêm nhiễm đường tiết niệu

3.PH

Đo bằng giấy chỉ thị màu, so màu theo bảng mẫu và xác định PH trong vòng 30s

-PH bình thường trong khoảng 7.2-8

-PH bất thường thường gặp trong trường hợp tinh trùng quá ít hay không có tinh trùng có thể do tắc hoặc không có ống dẫn tinh hai bên

4. Thể tích:


-Đo thể tích bằng cách cân và ghi trọng lượng trước và sau khi lấy mẫu

Có ưu điểm: Tránh sai số từ vạch chia trên bơm tiêm .

Thể tích tinh dịch phản ánh hoạt động bài tiết của các tuyến do đó cũng cần chính xác để giúp ích trong điều trị nam học. Ngoài ra thể tích con liên quan trực tiếp tới tổng số tinh trùng do đó liên trực tiếp tới chất lượng mẫu.

5. Độ nhớt:

Độ nhớt quá cao ảnh hưởng tới khả năng di động của tinh trùng→giảm khả năng thụ thai tự nhiên

Độ nhớt bất thường thường do sự bất thường các thành phần trong tinh dịch từ các tuyến phụ tiết ra.

III- KHẢO SÁT VI THỂ:

Trong khảo sát vi thể Who mới đã chuẩn hóa và làm giảm bớt sự sai số nhờ vào việc đưa ra được các bảng sai số để trong quá trình khảo sát và tinh toán người làm sẽ theo một chuẩn nhất định.

1.Đánh giá mật độ:


Tổng số tinh trùng trong một lần xuất tinh và mật độ tinh trùng cả hai đều liên quan đến tỉ lệ có thai và là cơ sở để tiên lượng khả năng có thai.

Có thể đánh giá mật độ trên buồng đếm NEUBAUER hoặc buồng đếm MAKLER tùy vào điều kiện của từng cơ sở

Khi sử dụng buồng đếm NEUBAUER Who mới đã đưa ra cách pha loãng, tính toán hệ số pha loãng, đếm buồng đếm và tính toán sai số một cách tỉ mỉ ( có tài liệu, bảng tính và bảng sai số kèm theo)

2. Đánh giá độ di động:

Tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới được cho là liên quan đến tỉ lệ có thai, nên cần có sự đánh giá một cách chính xác

Đánh giá độ di động bằng cách khảo sát sự di động tự nhiên của tinh trùng, sau đó tính tỉ lệ giữa tinh trùng trong cùng thể tích và được thể hiện bằng phần trăm.

Theo phiên bản cũ tinh trùng di động tiến tới được phân thành 02 loại: Loại A (Di động tiến tới nhanh) với tốc độ 25 µm/s, Loại B (Di động tiến tới chậm). Điều này khó xác định được điểm tiến tới trước một cách chính xác mà không chủ quan, WHO 2010 đưa ra tiêu chuẩn đánh giá sự di động của tinh trùng chỉ còn 03 loại: Di động tiến tới (PR), di động không tiến tới (NP), không di động (IM). Điều đó sẽ dễ dàng phân loại tinh trùng hơn, mang tính khách quan hơn.

Bình thường: PR+NP≥40%

Hoặc: PR≥32%

3. Đánh giá tỉ lệ sống chết:

Sử dụng phương pháp nhuộm EOSIN-NIGROSIN:

Tinh trùng chết bắt màu đỏ của eosin, tinh trùng sống không bắt màu đỏ của eosin.

Tỉ lệ sống của tinh trùng rất quan trọng với lâm sàng trong trường hợp tinh trùng bất động hoàn toàn trong mẫu. Ví du: Một mẫu bất động hoàn toàn nhưng không có nghĩa mẫu đó 100% tinh trùng đều chết, qua đánh giá tỉ lệ sống chết người ta có thể tìm ra mẫu đó có tinh trùng sống hay không và tiến hành tác động một số phương pháp như HOSTEST đẻ bắt con tinh trùng sống tiến hành làm ICSI.

Tỉ lệ tinh trùng chết và bất động cao biểu hiện bệnh lý ở mào tinh hoàn.

4. Đánh giá hình dạng:

Tinh trùng rất đa dạng, việc đánh giá cần khảo sát cẩn thận. Hình dạng tinh trùng cung cấp một số thông số rất quan trọng giúp dự đoán tình trạng thụ tinh nếu được đánh giá theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt (Strict Criteria)

       Tỉ lệ tinh trùng hình dạng bình thường đánh giá theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt liên quan tới tỉ lệ thai tiến triển, khả năng có thai tự nhiên hay có thai khi điều trị bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Phương pháp sử dụng là phương pháp nhuộm PAPANICOLAOU, SHORR hoặc DIFF QUICK

Trong đó phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất ở các phòng xét nghiệm nam học là: Phương pháp nhuộm PAPANICOLAOU.

HÌnh dạng bình thường theo tiêu chuẩn cũ là≥15% nhưng theo tiêu chuẩn mới chỉ còn ≥04%.

Có sự thay đổi như vậy là do: Chất lượng tinh trùng ngày càng giảm, cách đánh giá kiểm tra có nhiều thay đổi, KRUGER đã đưa ra con số này từ rất lâu nhưng chưa được công nhận và đến nay thực tế nghiên cứu đã công nhận kết quả này.

5. Khảo sát tế bào lạ:

Bách phân tế bào bất thường: Bạch cầu, tinh trùng non… Trên lam nhuộm PAP và tính tỉ lệ phần trăm tế bào bất thường.

+Bạch cầu:

Bình thường không có trong tinh dịch nếu có chỉ có với số lượng rất ít. Một số lượng lớn bạch cầu hiện diện trong một lần xuất tinh (>1.106TB/ml tinh dịch) có thể biểu hiện bệnh lý, thường bắt nguồn từ tuyến tiền liệt hoặc dịch túi tinh.

+Tinh trùng non:

Tế bào mầm chưa trưởng thành có nhiều trong tinh dịch chứng tỏ do rối loạn chức năng của ống sinh tinh, thường trong bệnh giãn tĩnh mạch tinh.

+Vi khuẩn và vi sinh vật đơn bào:

Bình thường không có trong tinh dịch, nhưng nếu có với số lượng lớn biểu hiện tình trạng nhiễm trùng đường sinh dục.

           

Việc đánh giá xét nghiệm tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt ( WHO 2010) sẽ hạn chế sai số chủ quan từ người đọc, từ đó đưa ra được giá trị kết quả sát thực nhất, nhằm đưa ra hướng điều trị phù hợp trong hỗ trợ sinh sản, đem lại tỉ lệ thành công cao trong công cuộc “ Ươm mầm hạnh phúc”.

 
 

Số lượt đọc: 17688 -